HỮU NHƠN

Giả thuyết Sapir-Whorf

Chắc hẳn bạn đã nghe huyền thoại về người Eskimo có thể phân biệt được vô số loại tuyết. Theo giả thuyết Sapir-Whorf (được đặt theo tên nhà ngôn ngữ học Hoa Kì Edward Sapir và học trò của ông Benjamin Whorf), lí do cho năng lực ai cũng biết này là người Eskimo có nhiều từ miêu tả tuyết hơn người nói những ngôn ngữ khác. Theo ý này, vốn từ ngữ quyết định khả năng suy nghĩ và nhận thức của chúng ta theo đúng nghĩa đen. Ý tưởng này đã có ảnh hưởng rất lớn trong nhiều thập niên, sau khi được Whorf đề xuất lần đầu trên tạp chí Bình luận Công nghệ của MIT vào năm

1940. Tuy nhiên, đến những năm 1990, giả thuyết này không còn được coi trọng trong giới khoa học chính thống. Nhà tâm lí học Steven Pinker thậm chí còn viết một “cáo phó” cho nó trong cuốn sách

Bản năng Ngôn ngữ xuất bản năm 1994. Tất nhiên, nếu chúng ta chỉ có thể nghĩ về những thứ có từ cho nó, thì làm sao ban đầu chúng ta học được ngôn ngữ? Huyền thoại Eskimo đã bị lẫn lộn đầu đuôi: Một người Eskimo không phân biệt các loại tuyết nhờ lượng từ vựng cô ấy biết; cô sử dụng nhiều từ về tuyết hơn vì đã học cách nhận biết các loại tuyết khác nhau.

Mặc dù ngôn ngữ không quyết định khả năng suy nghĩ, hiển nhiên là qui ước của ngôn ngữ ảnh hưởng tới thói quen suy nghĩ của chúng ta. Khi xem xét các ngôn ngữ buộc người nói phải gán giới tính cho đồ vật, người ta thấy rằng người nói nhìn đồ vật theo đúng tính đực và tính cái phù hợp với qui ước ấy.

Hi, mình là Hữu Nhơn. Chào mừng bạn đến với blog của mình! Đây là nơi mình chia sẻ những câu chuyện về tâm lý, giáo dục và cuộc sống với mong muốn chạm đến những góc sâu nhất trong suy nghĩ và cảm xúc của bạn. Hy vọng mỗi bài viết sẽ mang đến cho bạn chút đồng cảm, chút suy tư và chút cảm hứng để tiếp tục hành trình phát triển bản thân.

More
articles

Tâm lí học

Ý thức

Ý thức từ lâu đã là đối tượng tranh luận giữa các nhà thần kinh học và các triết gia. Nghiên cứu bộ não hiện đại chỉ mới bắt đầu cung cấp một số hiểu biết về nó, và lí thuyết khu vực làm việc toàn diện là mô hình hữu ích nhất để diễn giải các bằng chứng hiện có. Phương pháp này cung cấp hiểu biết về các rối loạn ý thức như hôn mê và tình trạng thực vật kéo dài, cùng một số thông tin gợi ý rằng các tình trạng như tâm thần phân liệt liên quan tới sự thay đổi sâu sắc của các quá trình trong không gian làm việc toàn diện.

Đọc thêm »
Tâm lí học

Số bảy của Miller

Trong khi nghiên cứu của Miller tỏ ra khá vững vàng, các nghiên cứu gần đây đã đặt ra nghi vấn về nó.
Bạn có thực sự nhớ được bảy đoạn, hay bạn chỉ đang nhóm những đoạn đó thành các đoạn lớn hơn? Vào năm 2001, nhà tâm lí học người Mĩ Nelson Cowan tranh luận rằng dung lượng trí nhớ ngắn hạn ít hơn nhiều so với con số bảy. Khi chúng ta bị ngăn cản tạo ra các đoạn mới bởi đang đông thời thực hiện các nhiệm vụ khác, số lượng đoạn mà chúng ta nhớ được là gần bốn.

Đọc thêm »
Tâm lí học

Mô hình nút cổ chai của Broadbent

Lí thuyết gốc của Broadbent nói rằng các tín hiệu không thể đi qua nút cổ chai sẽ biến mất. Tuy nhiên, vào năm 1960, nhà tâm lí học người Anh Anne Treisman nhận thấy thuyết của Broadbent không giải thích được việc mọi người dù đang mê mải trong các nhiệm vụ phức tạp vẫn có thể phản ứng với âm thanh gọi tên mình. Treisman tranh luận rằng các tín hiệu không được xử lí thực ra bị giữ lại, cho phép các tín hiệu quan trọng hay đặc biệt ấn tượng thu hút sự chú ý của chúng ta.

Đọc thêm »
Shopping Cart