HỮU NHƠN

Con chó của Pavlov

Ivan Pavlov là nhà khoa học người Nga đầu tiên miêu tả quí luật học tập cơ bản này. Minh chứng nổi tiếng là việc ông liên tục rung chuông trước khi cho chó ăn trong phòng thí nghiệm. Sau cuộc huấn luyện, các chú chó sẽ chảy nước dãi mỗi khi nghe thấy tiếng chuông. Thí nghiệm này chứng minh đám chó đã học được cách liên hệ giữa hai tác nhân kích thích: Cái chuông và thức ăn. Cách học kiểu liên kết này được gọi là phản xạ “có điều kiện”, hay phản xạ Pavlov. Phản xạ có điều kiện không chỉ xảy ra ở chó, mà ở mọi sinh vật từ sên biển tới con người.

Điều này rất quan trọng bởi dù là một trong những dạng học hỏi đơn giản nhất nhưng phản xạ có điều kiện cho phép chúng ta dự đoán và lường trước những gì sắp trải nghiệm. Đây cũng là điểm khởi đầu giá trị cho các nhà thần kinh học quan tâm tới cơ sở sinh học của kí ức. Các lí thuyết về phản xạ có điều kiện mô tả cách liên kết giữa hai tác nhân kích thích mạnh lên hay yếu đi phụ thuộc vào tần suất chúng diễn ra cùng nhau, tốc độ tác nhân này xảy ra trước tác nhân kia, và liệu có tác nhân nào khác tham gia hay không.

Chú ý rằng phản xạ có điều kiện không giải thích một con vật làm gì – nó miêu tả tình huống mà các kích thích gây ra hành động, bỏ qua bản thân hành động đó. “Điều kiện hóa từ kết quả” là đối trọng với phản xạ có điều kiện, miêu tả tình huống xảy ra kích thích (ví dụ: Thức ăn) phụ thuộc vào hành vi của con vật (ví dụ: Nó có cầu xin hay không). Điều kiện hóa từ kết quả được cho là miêu tả phạm vi học tập rộng hơn phản xạ có điều kiện.

Hi, mình là Hữu Nhơn. Chào mừng bạn đến với blog của mình! Đây là nơi mình chia sẻ những câu chuyện về tâm lý, giáo dục và cuộc sống với mong muốn chạm đến những góc sâu nhất trong suy nghĩ và cảm xúc của bạn. Hy vọng mỗi bài viết sẽ mang đến cho bạn chút đồng cảm, chút suy tư và chút cảm hứng để tiếp tục hành trình phát triển bản thân.

More
articles

Tâm lí học

Ý thức

Ý thức từ lâu đã là đối tượng tranh luận giữa các nhà thần kinh học và các triết gia. Nghiên cứu bộ não hiện đại chỉ mới bắt đầu cung cấp một số hiểu biết về nó, và lí thuyết khu vực làm việc toàn diện là mô hình hữu ích nhất để diễn giải các bằng chứng hiện có. Phương pháp này cung cấp hiểu biết về các rối loạn ý thức như hôn mê và tình trạng thực vật kéo dài, cùng một số thông tin gợi ý rằng các tình trạng như tâm thần phân liệt liên quan tới sự thay đổi sâu sắc của các quá trình trong không gian làm việc toàn diện.

Đọc thêm »
Tâm lí học

Số bảy của Miller

Trong khi nghiên cứu của Miller tỏ ra khá vững vàng, các nghiên cứu gần đây đã đặt ra nghi vấn về nó.
Bạn có thực sự nhớ được bảy đoạn, hay bạn chỉ đang nhóm những đoạn đó thành các đoạn lớn hơn? Vào năm 2001, nhà tâm lí học người Mĩ Nelson Cowan tranh luận rằng dung lượng trí nhớ ngắn hạn ít hơn nhiều so với con số bảy. Khi chúng ta bị ngăn cản tạo ra các đoạn mới bởi đang đông thời thực hiện các nhiệm vụ khác, số lượng đoạn mà chúng ta nhớ được là gần bốn.

Đọc thêm »
Tâm lí học

Mô hình nút cổ chai của Broadbent

Lí thuyết gốc của Broadbent nói rằng các tín hiệu không thể đi qua nút cổ chai sẽ biến mất. Tuy nhiên, vào năm 1960, nhà tâm lí học người Anh Anne Treisman nhận thấy thuyết của Broadbent không giải thích được việc mọi người dù đang mê mải trong các nhiệm vụ phức tạp vẫn có thể phản ứng với âm thanh gọi tên mình. Treisman tranh luận rằng các tín hiệu không được xử lí thực ra bị giữ lại, cho phép các tín hiệu quan trọng hay đặc biệt ấn tượng thu hút sự chú ý của chúng ta.

Đọc thêm »
Shopping Cart