HỮU NHƠN

Tâm lí học

Lí thuyết cảm xúc James-Lange

Lí thuyết James-Lange đã nhận được sự ủng hộ trong những năm gần đây từ nghiên cứu cho thấy chỉ hành động mỉm cười có thể khiến con người cảm thấy hạnh phúc hơn. Hơn thế nữa, một nghiên cứu vào năm 2008 ở phụ nữ đã trải qua tiêm botox thẩm mĩ phát hiện ra vùng trung tâm cảm xúc của bộ não khi trưng ra biểu cảm tức giận ít hoạt động hơn thông thường. Các nhà khoa học đề xuất rằng botox đã gây liệt một số cơ mặt của họ, do đó giảm ảnh hưởng đến cảm xúc.

Nhiệm vụ nhàm chán của Festinger

Không chỉ loài người chúng ta trải qua sự bất hòa nhận thức, loài khỉ cũng thế. Nhà tâm lí học Louisa Egan và các đồng nghiệp ở Đại học Yale đã chỉ ra điều này trong một nghiên cứu vào năm 2007. Trong đó, họ cho các con khỉ mũ (còn gọi là “khỉ thầy tu”) lựa chọn giữa các cặp kẹo có màu sắc khác nhau nhưng mùi vị như nhau. Sau khi từ chối một cặp có màu nhất định, con khỉ thực hiện một loạt lựa chọn theo sau cho thấy nó đã hạ giá trị của màu bị loại bỏ trong tâm trí, biện minh cho việc ưu tiên tùy hứng trước đó.

Các trạng thái cảm xúc phổ quát của Ekman

Từ nghiên cứu của Ekman, nhìn chung mọi người đều chấp nhận rằng nét mặt là một ngôn ngữ cảm xúc phổ quát. Tuy nhiên, một nghiên cứu vào năm 2009 cho thấy người Tây Âu và châu Á sử dụng các hệ thống giải mã nét mặt khác và hệ thống của người châu Á không thể phân biệt chắc chắn giữa biểu hiện sợ hãi và ghê tởm theo cách mã hóa của FACS. Điều này cho thấy các biểu cảm không hề phổ quát.

Tính mềm dẻo của bộ não

Tính mềm dẻo của não bộ được tranh luận nhiều đến vậy là do mâu thuẫn với ý tưởng rằng tâm trí là một bộ máy xử lí thông tin giống máy tính. Lí do khác là mọi người thấy ngạc nhiên về lí thuyết này. Dù tâm trí dựa vào bộ não là niềm tin phổ biến nhưng trong sâu thẳm, chúng ta vẫn không tin rằng tất cả các suy nghĩ và cảm xúc của mình đều do cục thịt nằm giữa hai tai quyết định.

Các giai đoạn phát triển Đạo đức của Kohlberg

Kohlberg phát hiện ra rằng câu trả lời của trẻ em thuộc các quốc tịch và lứa tuổi khác nhau đều rất tương thích với các giai đoạn phát triển đạo đức của ông. Một số nhà tâm lí học đã tranh luận rằng hầu hết trẻ em không quen với các tình huống khó xử về mặt đạo đức được sử dụng trong thử nghiệm và có thể trả lời chín chắn hơn nếu tình huống liên quan tới chúng hơn. Những người khác thì cho rằng việc nhấn mạnh vào công lí khiến lí thuyết của Kohlberg vốn đã phân biệt giới tính, bởi vì những phẩm chất truyền thống được cho là “tính tốt” của phái nữ như quan tâm tới người khác lại có điểm thấp trong thang đo của ông.

Những con khỉ của Harlow

Harlow chỉ ra rằng khỉ con có nhu cầu tiếp xúc bẩm sinh với thứ mang lại cảm giác dễ chịu, một điều cũng cơ bản như nhu cầu thức ăn. Bằng cách đó, ông thách thức lí thuyết ràng buộc “tình cảm vụ lợi” phổ biến với các nhà hành vi học và phân tâm học. Thuyết này cho rằng trẻ sơ sinh gắn bó với người mẹ bởi vì mẹ có thể thỏa mãn nhu cầu bản năng với dinh dưỡng. Ông cũng tranh luận rằng người cha có thể chăm sóc tốt như người mẹ. Đó là một ý tưởng cách mạng vào thời điểm đó.

Jean Piaget

Piaget tiếp tục viết hơn 50 cuốn sách và hàng trăm bài báo, hầu hết đều là về sự phát triển của trẻ. Dù vậy, ông luôn khẳng định mình không phải là nhà tâm lí học về trẻ em mà là nhà nhận thức luận về di truyền, vì điều ông quan tâm thực sự là sự phát triển của kiến thức. Trong nhiều nghiên cứu ban đầu, các đối tượng nghiên cứu yêu thích của ông chính là ba người con, từ lúc chúng còn bé đến 12 tuổi và cả sau đó.

Thứ tự sinh

Mặc dù qua đời sớm ở tuổi 37, Vygotsky đã đóng góp đáng kể cho tâm lí học và các ý tưởng của ông đặc biệt liên quan đến giáo dục. Ngoài việc đặt nghi vấn về giá trị của việc kiểm tra theo tiêu chuẩn, ông chỉ ra rằng giáo viên có thể hỗ trợ sự phát triển trí thông minh của học sinh bằng các phương pháp tương tác và hướng dẫn, quanh những nhiệm vụ mà chúng có thể độc lập thực hiện. Làm như vậy, giáo viên đã cung cấp một “giàn giáo” hay bối cảnh, trong đó học sinh có thể dùng kiến thức đã có để giải quyết vấn để trong tẩm tay.

Vùng phát triển lân cận của Vygotsky

Mặc dù qua đời sớm ở tuổi 37, Vygotsky đã đóng góp đáng kể cho tâm lí học và các ý tưởng của ông đặc biệt liên quan đến giáo dục. Ngoài việc đặt nghi vấn về giá trị của việc kiểm tra theo tiêu chuẩn, ông chỉ ra rằng giáo viên có thể hỗ trợ sự phát triển trí thông minh của học sinh bằng các phương pháp tương tác và hướng dẫn, quanh những nhiệm vụ mà chúng có thể độc lập thực hiện. Làm như vậy, giáo viên đã cung cấp một “giàn giáo” hay bối cảnh, trong đó học sinh có thể dùng kiến thức đã có để giải quyết vấn để trong tẩm tay.

Các giai đoạn phát triển nhận thức của Piaget

Piaget có tầm ảnh hưởng rất lớn nhưng các ý tưởng của ông bị chỉ trích cực kì nặng nề. Lời chỉ trích lớn nhất là về việc ông bỏ qua vai trò của các yếu tố xã hội trong sự phát triển kiến thức. Một chỉ trích khác là ông không sử dụng các phương pháp tiêu chuẩn. Ông bắt đầu bằng cách hỏi những đứa trẻ một loạt câu hỏi giống nhau rồi chỉnh sửa những câu hỏi sau theo câu trả lời mà đám trẻ đưa ra. Hơn thế nữa, ông không sử dụng thống kê để phân tích các kết quả và không giải thích sự khác biệt của từng cá nhân.

Shopping Cart