Stanley Milgram
Mặc dù được biết đến nhiều nhất vì các thí nghiệm phục tùng, Milgram cũng thực hiện các thí nghiệm có tầm ảnh hưởng trong “hiện tượng thế giới nhỏ” (hay “sáu chặng phân cách”) và các tác động tâm lí của môi trường đô thị.
Mặc dù được biết đến nhiều nhất vì các thí nghiệm phục tùng, Milgram cũng thực hiện các thí nghiệm có tầm ảnh hưởng trong “hiện tượng thế giới nhỏ” (hay “sáu chặng phân cách”) và các tác động tâm lí của môi trường đô thị.
Thí nghiệm nhà tù Stanford của Zimbardo được quan tâm trở lại vào năm 2004, khi nổi lên các cáo buộc về tình trạng cai ngục Hoa Kì bạo hành tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib ở Iraq. Thực tế, Zimbardo đã trở thành nhân chứng chuyên môn bào chữa trong các phiên tòa quân sự xử trung sĩ Ivan “Chip” Frederick, nơi ông tranh luận rằng phần nhiều trách nhiệm của hành động hung bạo là do môi trường nhà tù cộng với các hoàn cảnh hệ thống và chính trị rộng lớn.
Một vấn đề với nhiều nghiên cứu về giả thuyết tiếp xúc là nó chỉ tiêu biểu tại một thời điểm. Những kiểu nghiên cứu này không thể chứng minh việc tiếp xúc tạo ra các thái độ tích cực. Có thể đơn giản là người có thái độ tích cực thường tìm kiếm nhiều tiếp xúc hơn. Dù vậy khá lạc quan là một nghiên cứu gần đây gợi ý rằng “tiếp xúc mở rộng’, tức là bạn bè có quen ai đó ở nhóm ngoài, giúp giảm thiểu định kiến. Tưởng tượng ra một cuộc gặp gỡ tích cực với thành viên ngoài nhóm cũng có hiệu quả tương tự.
Từ nghiên cứu có ảnh hưởng mạnh mẽ của Janis, tư duy tập thể đã bị đổi lỗi cho rất nhiều thảm họa, bao gồm thảm họa tàu con thoi Challenger, và gần đây hơn là cuộc chiến Iraq, cộng đồng tình báo đã có niềm tin sai lầm rằng Saddam Hussein sở hữu kho dự trữ Vũ khí Hủy diệt Hàng loạt. “Tư duy tập thể khiến cộng đồng (tình báo] diễn giải bằng chứng mơ hồ như việc thu mua công nghệ lưỡng dụng thành bằng chứng kết luận,” Pat Roberts, sau này là Chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện, phát biểu với báo chí vào năm 2004.
Khi sử gia Joseph de May phân tích quá trình tố tụng từ phiên tòa xét xử Winston Moseley, tên sát nhân giết Kitty Genovese, ông nhận thấy câu chuyện 38 người chứng kiến mà không làm gì chỉ là chuyện hoang đường của các bài báo đưa tin không chính xác. Thực tế, lần tấn công đẫm máu thứ hai của Moseley đối với Genovese diễn ra tại một cầu thang khuất khỏi tầm nhìn của tất cả nhân chứng. Tuy nhiên, vô số nghiên cứu tâm lí học đã khẳng định rằng hiệu ứng người ngoài cuộc là có thật.
Lí thuyết triển vọng là một phần của nghiên cứu đã mang về cho Daniel Kahneman giải Nobel Kinh tế và là nền tảng cho lĩnh vực được biết đến với cái tên “kinh tế học hành vi”. Ngành học này khám phá những miêu tả mới về cách chúng ta thực sự xử sự, bất chấp hành vi được cho là hợp lí. Bởi vì bất cứ canh bạc nào cũng có thể là lỗ hoặc lời phụ thuộc vào những gì bạn cho là hòa vốn. Một kết quả quan trọng của lí thuyết triển vọng là thay đổi cách mọi người cảm nhận về một canh bạc, bằng cách đổi cách miêu tả nó là nguy cơ thua lỗ hay cơ hội kiếm lời.
Theo nhà tâm lí học Loran Nordgren của Đại học Northwestern và đồng sự, một trong những lí do mà chúng ta thường dễ bị cám dỗ là khi thỏa mãn – họ gọi là trạng thái “lạnh” – ta thường đánh giá thấp sức mạnh của ham muốn ở trạng thái “nóng” (đói, mệt hay có dục vọng). Họ gọi điều này là định kiến về “sự tự kiềm chế”.
Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta đối mặt với bằng chứng khoa học mâu thuẫn trực tiếp với niềm tin của mình? Một nghiên cứu vào năm 2010 được thực hiện bởi nhà tâm lí học Geoffrey Munro của Đại học Towson đã phát hiện tình huống như vậy khiến nhiều người trong chúng ta kết luận rằng chủ đề này và cả các chủ đề khoa học khác là không thể thử nghiệm được. Ông gọi đây là “viện cớ bất lực mang tính khoa học.”
Vùng não bộ cụ thể liên quan đến giả thuyết dấu hiệu cơ thể là vùng vỏ thùy giữa trán, ở ngay đằng sau và phía trên đôi mắt của bạn. Ngoài việc quan sát tình trạng suy yếu ở các bệnh nhân, Damasio lập luận rằng thật hợp lí khi vùng này tham gia vào việc đưa ra quyết định. Nó không chỉ nhận thông tin từ tất cả các giác quan của chúng ta mà còn kết nối với trung tâm cảm xúc của bộ não ở hồi hải mã và hạch hạnh nhân. Đây là một phần của thuỳ não trước thùy trán, nơi lí trí xuất hiện.
Có vẻ như thiên tài được di truyền theo huyết thống. Khó có gia tộc nào chứng minh điều này tốt hơn dòng họ James ở New York. Không chỉ là tộc trưởng, nhà thần học giàu có và được kính trọng bằng chính năng lực, Henry James Snr. còn là cha của ba đứa trẻ lần lượt đạt được thành tựu trong các lĩnh vực riêng: Nhà văn Henry James, nhà viết nhật kí Alice James và nhà tâm lí học William James.